Cấu trúc hình học và đặc tính vật liệu máy biến áp lực

Thứ sáu - 26/04/2019 05:14
TÓM TẮTĐể giúp người kỹ sư có thể phân tích các phép thí nghiệm chẩn đoán nâng cao như Phân tích đáp ứng tần số (Frequency Response Analysis), Phân tích đáp ứng điện môi (Dielectric Frequency Response) hay Phóng điện cục bộ (Partial Discharge) ... ứng dụng cho đối tượng máy biến áp lực trong các trạm biến áp tăng áp của nhà máy điện, trạm trung gian và phân phối của lưới điện Việt Nam, bài viết giới thiệu tổng quan cấu trúc hình học và đặc tính vật liệu của thiết bị này.
  1. GIỚI THIỆU
Một hệ thống điện tiêu biểu gồm các khâu sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng, tương ứng có các loại trạm biến áp tăng áp liên kết với nhà máy điện, trạm trung gian phục vụ truyền tải và các trạm phân phối theo minh họa ở hình 1. Bảng 1 tổng hợp thông số nhãn máy của các máy biến áp lực (MBA) đang được sử dụng trong các loại trạm biến áp trên lưới điện miền Nam.
Hình 1. Sơ đồ tổng quan của một hệ thống điện tiêu biểu

Hình 1. Sơ đồ tổng quan của một hệ thống điện tiêu biểu
  Bảng 1. Phân loại máy biến áp trên lưới điện miền Nam
Trạm biến áp Thông số chính
Nguồn (liên kết với nhà máy điện) Đa phần các máy biến áp nguồn ba pha có tổ đấu dây YNd11, cách điện lỏng.
  • Nhiệt điện: nâng áp từ 13,8 kV, 22 kV hoặc 26 kV lên cấp 220 kV hoặc 500 kV; công suất MBA lớn nhất 750 MVA.
  • Thủy điện: nâng áp từ 0,4 kV lên 22 kV (nhà máy nhỏ) hay từ 13,8 kV lên 110 kV hoặc 220 kV (nhà máy lớn); công suất lớn nhất 125 MVA.
  • Điện mặt trời: nâng áp từ 22 kV lên 110 kV; công suất lớn nhất 63 MVA.
Trung gian Máy biến áp tự ngẫu đơn pha, tổ đấu dây Ia0i0, cách điện lỏng.
500/220/22 kV – 3 x 300 MVA (ghép 3 máy đơn pha)
Máy biến áp tự ngẫu ba pha, tổ đấu dây YNa0+d11, cách điện lỏng.
220/110/22 kV – 250 hay 125 MVA
Máy biến áp tự ngẫu ba pha, tổ đấu dây YNyn0+d11, cách điện lỏng.
110 /22 kV / (+11kV) – 63, 40, 25 hay 16 MVA
Phân phối Máy biến áp ba pha cách điện lỏng hay cách điện không khí (máy biến áp khô)
22/0,4 kV – công suất từ vài trăm kVA cho đến vài MVA

Cấu tạo của một máy biến áp ba pha, cách điện lỏng điển hình với các phần tử tiêu biểu được giới thiệu trong hình 2. Để có thể ứng dụng phân tích các thí nghiệm chẩn đoán nâng cao trong vùng tần số rộng, từ vài Hz đến vài MHz, dựa trên các mô hình thông số điện tương đương của MBA, bài viết sẽ phân tích cấu trúc hình học của phần tích cực (active part) của MBA bao gồm lõi thép và cuộn dây ở phần II và đặc tính thông số của các loại vật liệu ở phần III.
Hình 2. Cấu trúc của một máy biến áp 3 pha ngâm dầu điển hình [1]
1 Vỏ máy
2 Nắp máy
3 Thùng dầu phụ
4 Đồng hồ đo mức dầu
5 Rơle Buchholz
6 Ống dẫn đến thùng dầu phụ
7 Bộ chuyển nấc
8 Thùng điều khiển bộ chuyển nấc
9 Trục truyền động bộ đổi nấc
10 Sứ đầu vào phía cao áp
11,12,13 Các biến dòng chân sứ
14 Sứ đầu vào phía hạ áp
15 Lõi từ
 
16
17 Trụ đỡ
18 Cuộn dây
 
19 Điểm nối các cuộn dây đến bộ chuyển nấc
20 Van xả dầu
21 Van chân không
     
Hình 2. Cấu trúc của một máy biến áp 3 pha ngâm dầu điển hình [1]
 
  1. CẤU TRÚC HÌNH HỌC
Máy biến áp lực có các cuộn dây được quấn đồng tâm quanh trụ của lõi thép được gọi là MBA “kiểu lõi” (core type); ngược lại, nếu lõi thép được bao quanh bởi các cuộn dây thì MBA có cấu trúc “kiểu vỏ” (shell type), xem minh họa ở hình 2. So với thiết kế kiểu vỏ, cấu trúc kiểu lõi tiết kiệm vật liệu hơn và cũng dễ thi công lắp ráp hơn, nên được sử dụng phổ biến hơn trong các MBA truyền tải và phân phối [2]. Bài viết tập trung phân tích lõi thép và cuộn dây của MBA có cấu trúc kiểu lõi.

Hình 3. Máy biến áp kiểu lõi (trái) và kiểu vỏ (phải)
  1. Lõi thép
Đa phần lõi thép của MBA hiện hữu được chế tạo từ những lá tôn silic đẳng hướng cán lạnh chất lượng cao CRGO (Cold Rolled Grain-Oriented) với độ dày từ 0,3 mm đến 0,23 mm, phổ biến nhất là dạng M4 – 0,27 mm và M3 – 0,23 mm. Một số chuẩn vật liệu cùng độ dày lá tôn silic CRGO phổ biến trên thị trường được liệt kê trong bảng 2. Các lá thép được cắt góc 45º, ghép xếp lớp giữa trụ (limb) và xà (yoke) để làm giảm tổn hao do dòng Foucault, đồng thời giảm thiểu độ ồn và tăng độ cứng vững của lõi từ. Cấu trúc lõi thép này là dạng xếp lớp (stack core).
Bảng 2. Một số chuẩn tôn silic CRGO phổ biến trên thị trường [2]
Vật liệu tôn silic CRGO thông dụng Vật liệu HI-B Vật liệu HI-B bức xạ laser
M6 – 0,35 mm MOH – 0,27 mm ZDMH -95- 0,27 mm
M5 – 0,30 mm MOH – 0,23 mm ZDMH -90- 0,27 mm
M4 – 0,27 mm   ZDMH -90- 0,23 mm
M3 – 0,23 mm   ZDMH -85- 0,23 mm

Ngoài ra, công nghệ lõi thép làm bằng kim loại vô định hình (Amorphous) đang được ứng dụng trên các máy biến áp phân phối. Khác với tôn silic CRGO, các lá Amorphous rất mỏng (bằng 1/10 tôn silic CRGO). Mạch từ Amorphous thường là dạng quấn (wound core), được cấu thành từ dạng chữ C, ghép thành hình chữ nhật bo tròn ở góc. Chi tiết minh họa cho cấu trúc này được thể hiện ở hình 4.
Hinh4
Hình 4 – Cấu trúc mạch từ bằng tôn silic CRGO (trái) và kim loại Amorphous (phải) phổ biến [3]
Amorphous có thể giảm thiểu tổn thất không tải đến tầm 70-80% so với lõi tôn silic CRGO chuẩn M4; tuy nhiên, kim loại Armorphous bão hòa sớm hơn tôn silic CRGO. Do đó, máy biến áp sử dụng công nghệ Amorphous cần phải có kích thước mạch từ to hơn, cuộn dây lớn hơn và nhiều dầu hơn. Tổng chi phí cho máy biến áp Amorphous có thể cao hơn đến 40% so với máy biến áp thông thường [2]. Chính điều này khiến cho phạm vi ứng dụng công nghệ Amorphous hiện chỉ giới hạn ở cấp MBA phân phối.
  1. Cuộn dây
Các cuộn dây MBA có dây dẫn được chế tạo từ dây đồng dạng tròn hoặc dạng chữ nhật. Với MBA có dòng định mức cao, các dây đồng có tiết diện hình chữ nhật, được bện chung và hoán vị liên tục (Continuously Transposed Conductor - CTC), xem hình 5, để tránh sinh ra dòng quẩn. Các vòng dây được bọc quanh bởi giấy cách điện và quấn liên tục dọc theo trụ của lõi thép. Cuộn hạ áp (Low Voltage - LV) hoặc cuộn cân bằng (Tertiary Voltage - TV) thường được quấn trong cùng; cuộn cao áp (High Voltage – HV) được quấn bọc phía ngoài cùng. MBA kiểu vỏ có cách bố trí cuộn dây dạng bánh sandwich (cuộn HV và LV được quấn với cùng đường kính, xen kẽ và kẹp vào nhau).

Hình 5. Dây dẫn hoán vị liên tục (CTC) [4]

Trong các cuộn dây có điện áp định mức dưới 110 kV, các dây dẫn quấn kiểu xoắn ốc (helical) và dây quấn kiểu lớp (layer) được sử dụng tương đối phổ biến. Điểm chung của hai kiểu quấn dây này là các vòng dây được quấn quanh trụ lõi thép theo phương thẳng đứng tạo thành lớp; cuộn dây kiểu lớp sẽ có nhiều lớp so với kiểu xoắn ốc (xem hình 6a, b và d). Đối với các cuộn dây có điện áp định mức 110 kV, 220 kV hay cao hơn, cấu trúc kiểu đĩa thường được sử dụng; cuộn dây kiểu này gồm nhiều đĩa xếp chồng lên nhau dọc theo trụ từ, mỗi đĩa có nhiều vòng dây quấn theo phương ngang (xem hình 6b).
Hinh6
Hình 6. Minh họa các kiểu quấn dây thông dụng
Đối với các cuộn dây kiểu đĩa, phân bố điện áp quá độ dọc theo cuộn dây không đều khi có các quá điện áp lan truyền đến MBA. Điều này được giải thích thông qua các mô phỏng sử dụng mô hình thông số rải của cuộn dây để tính toán quá điện áp tức thời dọc theo cuộn dây. Theo đó, khi có quá điện áp xung với biên độ U lan truyền đến đầu cuộn dây có chiều dài L, điện áp tức thời Uo ở vị trí x từ đầu cuộn dây sẽ là [5]:
U0U=sinh(αx)sinh(αL) , với α=Cg∑Cs∑               (1)
Trong phương trình (1), CgS và CsS tương ứng là điện dung tương đương của cuộn dây so với đất (shunt/ground capacitance) và điện dung dọc tương đương (series capacitance) của cuộn dây. Hình 7 minh họa các phân bố biên độ điện áp quá độ dọc theo cuộn dây tương ứng với các trường hợp hệ số a khác nhau (hình trái) và các thành phần của điện dung dọc và điện dung so với với (điện thế) đất của một cuộn dây khảo sát (hình phải). Điện thế đất là điện thế của vỏ MBA đã được nối đất (nếu xét cuộn dây ngoài cùng) hay là điện thế của lõi thép nối đất (nếu xét cuộn dây bên trong cùng).

Hình 7. Minh họa phân bố điện áp quá độ dọc theo cuộn dây (trái) và các điện dung của cuộn dây (phải)

Theo hình 7, khi α càng lớn, điện áp quá độ sẽ đặt lên phần đầu cuộn dây càng cao. Do cuộn dây quấn theo kiểu đĩa liên tục có hệ số α lớn, từ 5 đến 30 [5], các nhà sản xuất đã có một số giải pháp như:
  • Sử dụng màn chắn tĩnh điện (static rings).
  • Sử dụng cuộn chắn quấn trong đĩa (shield coils), với 3 phương án đấu nối (xem hình 8a, b và c)
  • Sử dụng kiểu đĩa quấn xen kẽ (interleaved), xem hình 8d.
Hinh8
Hình 8. Các giải pháp thông dụng để cải thiện điện dung dọc tương đương cuộn dây và hệ số a
Giải pháp quấn kiểu đĩa xen kẽ sẽ làm cuộn dây có giá trị điện dung dọc tương đương lớn nhất, nhưng độ phức tạp về công nghệ trong quá trình sản xuất cũng là cao nhất. Giải pháp sử dụng cuộn chắn thì đơn giản hơn, đôi khi cũng có thể áp dụng cho kiểu đĩa xen kẽ [6]. Khi xét đến tính hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, giải pháp sử dụng kiểu đĩa thường và tăng cường cách điện ở đầu cuộn dây vẫn được áp dụng rộng rãi, xem hình 9.
  1. Cuộn dây 110 kV 
  1. Cuộn dây 22 kV
Hình 9. Hình ảnh thực tế các cuộn dây MBA 110/22 kV
  1. Hệ thống cách điện
Hệ thống cách điện trong MBA bao gồm phần cách điện của từng (vòng dây, đĩa hay lớp) cuộn dây, cách điện giữa các cuộn dây với nhau và cách điện giữa từng cuộn dây với vỏ máy/lõi thép. Khi xét một MBA hai cuộn dây, hệ thống cách điện này đặc trưng bởi các điện dung:
  • Điện dung tương đương ba pha giữa cuộn HV bên ngoài với vỏ máy (nối đất): CHG
  • Điện dung tương đương ba pha giữa cuộn LV bên trong với lõi thép (nối đất): CLG
  • Điện dung tương đương ba pha giữa cuộn HV và cuộn LV: CHL
  • Điện dung dọc tương đương cuộn dây (trên từng pha): tổ hợp của điện dung giữa các vòng dây lân cận và điện dung giữa các đĩa/lớp lân cận: CsS
Các giá trị điện dung CHG, CLG và CHL minh họa ở hình 10 có thể được xác định bằng các phép đo điện dung thông thường, nhưng riêng giá trị điện dung dọc cuộn dây CsS là không thể đo lường trực tiếp. Để xác định giá trị này, cần phải có thông tin chi tiết về cấu trúc hình học của dây quấn và thông số đặc tính vật liệu cách điện để tính toán giải tích, hoặc thông qua mô phỏng kết hợp với các phép đo không trực tiếp [7]. Ngoài ra, tổn hao của các tổ hợp cách điện này có thể được biểu diễn trong các sơ đồ điện tương đương của MBA bởi thông số điện dẫn tương ứng, được ký hiệu bởi GHG, GLG và GHL.
Hinh10

Hình 10 – Các điện dung tương đương trong một MBA hai cuộn dây

Để tính toán được các giá trị điện dung đề cập ở trên, cần phải biết thành phần của các tổ hợp cách điện; đối với MBA có cách điện lỏng (ngâm dầu), có hai loại cách điện chính là cách điện rắn (giấy cách điện là chủ yếu) và dầu cách điện. Đối với tổ hợp cách điện giữa các cuộn dây, phần cách điện rắn bao gồm các màn chắn (barrier) và các lớp chêm (spacer), được làm bằng giấy cứng cách điện tẩm dầu. Thông thường, giấy cứng có mật độ khối cao (1,1 - 1,3 g/cm3) được sử dụng làm cách điện chính giữa các cuộn dây, còn giấy cứng mật độ thấp hơn (0,9 g/cm3) được dùng làm cách điện giữa cuộn dây bên trong cùng với lõi thép. Dầu cách điện trong MBA vừa đóng vai trò là môi chất cách điện, và cũng đồng thời là chất làm mát. Các loại dầu cách điện hiện đang được sử dụng là các loại dầu khoáng (mineral oil), dầu silicone hay các ester tự nhiên hay tổng hợp nhân tạo.
  1. ĐẶC TÍNH VẬT LIỆU
Phần này sẽ giới thiệu các thông số đặc tính vật liệu của bộ lõi thép – cuộn dây và hệ thống cách điện giấy – dầu giữa các cuộn dây, là cơ sở cho các phân tích về sau trong các phép thí nghiệm chẩn đoán nâng cao. 
  1. Lõi thép – cuộn dây
Thông số vật liệu chính của hệ thống lõi thép – cuộn dây là độ từ thẩm (μ), đặc trưng cho khả năng tạo ra và khuếch đại (năng lượng) từ trường bên trong vật liệu. Trong thực tế, độ từ thẩm cần được biểu diễn dưới dạng phức, trong đó, phần thực biểu diễn khả năng tạo ra từ trường của vật liệu, còn phần ảo biểu thị cho tổn hao:
μ*=μ'-''              (2)
Tổn hao lõi thép MBA bao gồm tổn hao do dòng Foucault, tổn hao từ trễ và tổn hao định hướng từ, có thể được xác định theo phương trình (3) [8]:
Pc=Ph+Pe+Pa=Ph+kefB2+kaf0,5B1,5         (3)
    • Pc  là tổng tổn hao sắt từ (W/kg) ở tần số f  (Hz)
    • Ph,Pe,Pa  lần lượt là tổn hao từ trễ, tổn hao do dòng Foucault và tổn hao định hướng từ (W)
    • B  là cường độ từ trường (Tesla)
    • ke,ka  là các hằng số phụ thuộc vào cấu trúc hình học và điện trở suất khối của vật liệu
Khi phân tích đặc tính độ từ thẩm trong miền tần số, hiệu ứng bề mặt (skin effect) đóng vai trò rất quan trọng. Theo phương pháp giải tích, độ từ thẩm của những lá thép mỏng (laminations) được tính theo công thức (4), phụ thuộc theo hiệu ứng bề mặt trong phân bố mật độ từ trường [8, 9]:
μ*=μ'-''=kfeμrtanh(1+iD/δ)1+iD/δ       (4)
    • δ  là độ sâu hiệu ứng bề mặt (skin depth), tính theo công thức (5)
    • D  là bề dày của lá thép (mm)
    • kfe  là hệ số lấp đầy của lá thép so với khi có lớp cách điện
    • μr  là độ từ thẩm tương đối của vật liệu (phần thực của từ thẩm phức)
Độ sâu hiệu ứng bề mặt được xác định:
δ=2/μσπf               (5)
    • f  là tần số (Hz)
    •  μ  là độ từ thẩm (phần thực) của vật liệu (H/m)
    •  σ  là điện dẫn suất của vật liệu (S/m)
Hình 11 biểu diễn phần thực (m’) và phần ảo (m”) của độ từ thẩm theo công thức (4) với các thông số: lá thép mỏng có bề dày 0,35 mm, điện dẫn 5x106 S/m, độ từ thẩm tương đối là 500 và hệ số lấp đầy 0,92. Do hiệu ứng bề mặt thay đổi mạnh theo tần số, độ từ thẩm do đó cũng thay đổi tương ứng; ở tần số cao, độ từ thẩm giảm mạnh và lõi thép không có tác dụng.
Hình 11. Đặc tính theo tần số của độ từ thẩm lá thép
Đối với cuộn dây MBA, hiệu ứng bề mặt cũng có tác dụng đáng kể đối với phân bố mật độ dòng điện bên trong dây dẫn: khi tần số càng cao thì mật độ điện tích bên trong lõi dây dẫn càng giảm khiến cho điện trở xoay chiều (AC) càng tăng cao so với điện trở một chiều (DC). Ngoài ra, từ trường gây ra bởi các (vòng) dây dẫn lân cận cũng ảnh hưởng đến sự phân bố dòng điện trong dây dẫn (hiệu ứng lân cận – proximity effect), qua đó góp phần gia tăng tổn hao cuộn dây, được xác định theo phương trình (6) [8]:
Pw=PDCRDC+Pskin+PproximityRAC           (6)
    • PW  là tổng tổn hao đồng (W)
    • PDC  là tổn hao do điện trở một chiều (W)
    • Pskin,Pproximity  tương ứng là tổn hao do hiệu ứng bề mặt và hiệu ứng lân cận (W)
  1. Hệ thống cách điện
Thông số vật liệu chính của hệ thống cách điện là hằng số điện môi (ε), đặc trưng cho các khả năng phân cực của vật liệu cách điện (điện môi) dưới tác dụng của điện trường. Khi hệ thống cách điện được đặt dưới điện trường E , mật độ dòng điện J  xuất hiện bên trong hệ thống là tổng của các thành phần dòng điện dịch và dòng điện dẫn, biểu trưng bởi hằng số điện môi dạng phức ε*=ε'-'' . Tương tự như độ từ thẩm phức của vật liệu từ, phần thực ε'  của hằng số điện môi phức biểu thị cho các hiện tượng phân cực, còn phần ảo ε''  đặc trưng cho tổn thất do điện dẫn suất của môi chất và tổn thất do phân cực điện môi [10]. Các đại lượng này đều phụ thuộc vào tần số.
J=jωε0ε+χ'ε'-jσε0ω+χ''ε''E                (7)
    • ω  là tần số góc (rad/s)
    • ε  là hằng số điện môi ở tần số cao (F/m)
    • ε0  là hằng số điện môi của chân không (F/m)
    • χ'  và χ'' tương ứng là phần thực và ảo của đại lượng nhạy cảm điện (susceptibility)
    • σ  là điện dẫn suất của điện môi (S/m)
Hằng số điện môi của dầu khoáng cách điện có phần thực là hằng số, còn phần ảo phụ thuộc vào điện dẫn suất, nhiệt độ và tần số, được xác định theo phương trình (8). Khi nhiệt độ cao, dẫn suất tăng nên hệ số tổn hao điện môi sẽ càng lớn.
εoil*ω,T=2,2-jσ(T)ε0ω          (8)
Hằng số điện môi phức của giấy cách điện có phần thực hầu như không phụ thuộc đáng kể vào tần số và hàm lượng nước (ở nhiệt độ xác định) trong vùng tần số từ hàng chục Hz trở đi (xem hình 12a). Trong khi đó, phần ảo của hằng số điện môi lại thay đổi đáng kể theo tần số và hàm lượng nước (xem hình 12b) và cả nhiệt độ [10].
Hinh12
Hình 12. Hằng số điện môi phức của giấy cứng chứa các hàm lượng nước khác nhau ở 50°C [10]
Để phân tích đặc tính tần số của hệ thống cách điện giấy – dầu giữa các cuộn dây trong MBA, mô hình X-Y trong hình 16 đã được chấp nhận áp dụng rộng rãi. Theo đó, hằng số điện môi phức của hệ thống cách điện được tính theo công thức (9):
εeq*ω,T=Y1-Xεspacer*ω,T+Xεbarrier*ω,T+1-Y1-Xεoil*ω,T+Xεbarrier*ω,T            (9)
    • X là tỉ lệ của bề dày các lớp chắn so với tổng bề dày của các lớp chắn – chêm theo phương xuyên tâm hệ thống
    • Y là tỉ lệ của bề rộng của các miếng chêm so với tổng bề rộng của các lớp chêm – dầu theo chu vi hệ thống
    • εspacer*,εbarrier*  tương ứng là hằng số điện môi phức của giấy cách điện dùng làm miếng chêm và màn chắn
    • εoil*  là hằng số điện môi phức của dầu cách điện

Hình 13. Cấu trúc hệ thống cách điện giữa các cuộn dây và mô hình X-Y [10]
Hình 14 minh họa vùng ảnh hưởng của dầu và giấy cứng cách điện lên hằng số điện môi phức của hệ thống cách điện trong một MBA thực tế. Theo đó, hằng số điện môi của giấy/dầu có ảnh hưởng riêng lẻ đến đáp ứng điện môi của tổ hợp cách điện trong từng vùng tần số cục bộ: trong khoảng tần số từ 0,01 Hz đến 10 Hz, dầu cách điện có ảnh hưởng mạnh, trong khi ở dải tần số thấp hơn (<0,01 Hz) và cao hơn (>10 Hz), cấu trúc hình học X-Y và hàm lượng nước trong giấy cách điện lại có ảnh hưởng chi phối [11].
Hình 14. Đáp ứng tần số hằng số điện môi phức của tổ hợp cách điện giấy – dầu trong một MBA thực tế
 
  1. KẾT LUẬN
Bài viết đã giới thiệu tổng quan cấu trúc hình học và đặc tính vật liệu trong phần tích cực và hệ thống cách điện chính của máy biến áp lực. Những thông tin này có thể được sử dụng để xây dựng các mô hình vật lý (sơ đồ mạch điện tương đương) cho máy biến áp lực nhằm ứng dụng phân tích các phép thí nghiệm chẩn đoán nâng cao hiện đang được triển khai tại các công ty thí nghiệm điện.
 
  1. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
[1] https://en.wikipedia.org/wiki/Transformer#/media/File:Vermogentransformator_1.GIF
[2] Indrajit Dasgupta, "Power Transformers Quality Assurance," New Age International Ltd., India, 2009.
[3] http://teckglobal.com.au/news/38-amorphous-core-distribution-transformers-not-all-they-re-cracked-up-to-be
[4] Bernard Hochart, "Power Transformer Handbook," 1989.
[5] S.V Kulkarni, S.A. Khaparder, “Transformer Engineering – Design and Practice,” Marcel Denker, Inc, 2004.
[6] James H. Harlow, “Electric Power Transformer Engineering,” 3rd ed., CRC Press, 2012.
[7] N. T. Tran et. al., "Capacitances in a physical distributed circuit of ablack-box power transformer for Frequency Response Analysis at medium frequencies," 2016 IEEE International Conference on High Voltage Engineering and Application (ICHVE), 2016.
[8] Nilanga Abeywickrama, “Effect of Dielectric and Magnetic Material Characteristics on Frequency Response of Power Transformers,” PhD dissertation, Chalmers University of Technology, Goteborg, Sweden, 2007.
[9] A. Shintemirov, W. H. Tang, and Q. H. Wu, “Transformer Core Parameter Identification Using Frequency Response Analysis,” IEEE Trans. Magnetics, Vol. 46, No.1, 2010.
[10] “Frequency Response of Oil Impregnated Pressboard and Paper Samples for Estimating Moisture in Transformer Insulation,” IEEE Trans. Power Delivery, Vol. 21, No. 3, July 2006.
[11] Sivaji Chakravorti, Debangshu Dey, Biswendu Chatterjee, “Recent Trends in the Condition Monitoring of Transformers: Theory, Implementation and Analysis,” Springer, 2013.
ThS. NGUYỄN SĨ HUY CƯỜNG – CÔNG TY THÍ NGHIỆM ĐIỆN MIỀN NAM
PGS.TS. PHẠM ĐÌNH ANH KHÔI – ĐHBK TP.HCM

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
banner cuoi trang
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây